Tên gọi và ý nghĩa của Nước Việt Nam
Nước Việt Nam hiện nay được chính thức gọi là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tên gọi này đã trải qua nhiều thay đổi lịch sử, phản ánh các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của đất nước.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976): Sau khi giành độc lập từ thực dân Pháp vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập với Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976 đến nay): Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc và hai miền Bắc - Nam thống nhất vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI đã quyết định tên gọi mới là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, còn được biết đến với tên gọi “Cờ đỏ sao vàng” hay “Cờ Tổ quốc”, có thiết kế đơn giản nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Thiết kế: Lá cờ có hình chữ nhật với chiều rộng bằng ⅔ chiều dài. Nền cờ màu đỏ và ở giữa là một ngôi sao vàng năm cánh lớn.
Ý nghĩa màu sắc và biểu tượng:
Nền đỏ: Màu đỏ tượng trưng cho cách mạng và máu của các anh hùng đã hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc.
Ngôi sao vàng năm cánh: Ngôi sao vàng đại diện cho linh hồn dân tộc. Năm cánh của ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của năm tầng lớp nhân dân tham gia cách mạng gồm sĩ (trí thức), nông (nông dân), công (công nhân), thương (thương nhân), binh (binh lính).
Quốc kỳ hiện nay bắt nguồn từ lá cờ của Mặt trận Việt Minh trong cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp vào tháng 8 năm 1945. Theo Võ Nguyên Giáp, lá cờ này lần đầu tiên được Hồ Chí Minh sử dụng tại buổi mở lớp “Con đường giải phóng” để huấn luyện cán bộ chuẩn bị thành lập mặt trận đại đoàn kết dân tộc vào cuối năm 1940. Lá cờ chính thức xuất hiện trong buổi lễ Tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình.
Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký sắc lệnh quyết định quốc kỳ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng. Trong cuộc họp Quốc hội khóa I vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, quy định cụ thể về quốc kỳ đã được thông qua.
Sau khi đất nước thống nhất vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI xác định đây là quốc kỳ chính thức của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vị trí địa lý – địa hình
Việt Nam (tên chính thức: Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là quốc gia nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á.
Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam, vịnh Bắc Bộ và biển Đông ở phía đông, Trung Quốc ở phía bắc, Lào và Campuchia phía tây. Diện tích Việt Nam là 331.698 km², gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² vùng nước nội thủy (hồ nước ngọt lớn, mặt sông lớn, biển nội thủy ven biển), với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm, gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hình thể nước Việt Nam có hình chữ S, khoảng cách từ bắc tới nam (theo đường chim bay) là 1.650 km và vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là 50 km. Đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo.
Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam tuyên bố 12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và cuối cùng là thềm lục địa. Diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km² biển Đông.
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với những vùng đất thấp, đồi núi, nhiều cao nguyên với những cánh rừng rậm. Đất đai có thể dùng cho nông nghiệp chiếm chưa tới 20%. Đất nước bị chia thành miền núi, vùng đồng bằng sông Hồng ở phía bắc; và dãy Trường Sơn, Tây Nguyên, đồng bằng duyên hải miền trung, và đồng bằng sông Cửu Long ở phía nam.
Khí hậu
Việt Nam có bốn miền khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu phía Nam, miền khí hậu Trường Sơn, và miền khí hậu Biển Đông.
Miền khí hậu phía Bắc
Bao gồm phần lãnh thổ phía Bắc dãy Hoành Sơn. Miền này có khí hậu cận nhiệt đới ẩm và trong năm chia thành 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Tuy nhiên, miền khí hậu này có đặc điểm là mất ổn định vời thời gian bắt đầu-kết thúc các mùa và về nhiệt độ.
Miền khí hậu Trường Sơn
Gồm phần lãnh thổ phía Đông dãy Trường Sơn, kéo dài từ phía Nam dãy Hoành Sơn tới Mũi Dinh. Miền này mang đậm tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa, cũng phân chia thành 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Miền khí hậu phía Nam
Gồm phần lãnh thổ thuộc Tây Nguyên và Nam Bộ. Miền này có khí hậu nhiệt đới xavan với hai mùa: mùa khô và mùa mưa (từ tháng 4-5 đến tháng 10-11). Quanh năm, nhiệt độ của miền này cao, biên nhiệt độ nhỏ hơn đáng kể so với khu vực Bắc Bạch Mã. Nơi đây có một mùa khô kéo dài, đặc biệt sâu sắc. Khí hậu miền này ít biến động nhiều trong năm.
Miền khí hậu Biển Đông
Biển Đông Việt Nam mang đặc tính nhiệt đới mùa hải dương và tương đối đồng nhất. Tại đây thường xuyên có xoáy lốc đi từ Thái Bình Dương vào, tạo thành các cơn bão lớn.
Các vùng miền
Việt Nam được chia thành 3 miền và 8 vùng:
Bắc Bộ (Miền Bắc)
Bắc Bộ nằm ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam, có phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và phía đông giáp biển Đông. Địa hình Bắc Bộ đa dạng và phức tạp. Bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa. Khu vực đồng bằng rộng lớn nằm ở lưu vực sông Hồng, có diện tích khoảng 15 ngàn km2 và bằng 4.5% diện tích cả nước. Đồng bằng dạng hình tam giác, đỉnh là Thành phố Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển phía đông. Đây là đồng bằng châu thổ lớn thứ hai Việt Nam sau Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 40.000 km2
Trung Bộ (Miền Trung)
Trung Bộ nằm ở phần giữa lãnh thổ Việt Nam, phía Bắc giáp khu vực Đồng bằng Sông Hồng và trung du miền núi vùng Bắc Bộ; phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu vùng Nam Bộ; phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp 2 nước Lào và Campuchia. Dải đất miền Trung được bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây và sườn bờ biển phía Đông, vùng có chiều ngang theo hướng Đông - Tây hẹp nhất Việt Nam (khoảng 50 km) và nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Địa hình Trung Bộ có độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuống đồi gò trung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát ven biển rồi ra đến các đảo ven bờ.
Nam Bộ (Miền Nam)
Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ từ khi Việt Nam giành được độc lập vào năm 1945. Trong thời Quốc gia Việt Nam (1949-1955) và Việt Nam Cộng hòa (1955-1975), Nam Bộ đôi khi còn được gọi là "Nam phần".
Lịch sử hình thành và phát triển
Thời tiền sử và cổ đại
Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng (Homo erectus) thời kỳ đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử được phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh Bình và Quảng Bình. Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.
Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa được phát hiện từ cao nguyên tới đồng bằng. Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo. Đến khoảng năm 1000 TCN, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn với những trống đồng đặc trưng. Sau đó, những nhà nước đầu tiên, Văn Lang và u Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ I TCN.
Các tên gọi của Việt Nam thời Hồng Bàng:
+ Văn Lang: thời Hùng Vương
+ Âu Lạc: thời An Dương Vương
Thời Bắc thuộc
Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị người Việt trong hơn 1000 năm. Sau các lần khởi nghĩa không thành của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan hoặc giành độc lập trong thời gian ngắn như Hai Bà Trưng, Lý Bí, đến năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ cho người Việt, song chưa hẳn là độc lập dân tộc vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc. Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận chiến sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu việc người Việt độc lập khỏi các triều đình phương Bắc.
Thời Bắc thuộc, tên gọi của Việt Nam thay đổi như sau:
+ (thuộc) Nam Việt: thời nhà Triệu, vương quốc Nam Việt gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, đại bộ phận tương đương Quảng Đông, Quảng Tây và một phần tương đương nam bộ Quý Châu hiện nay.
+ (thuộc) Giao Chỉ bộ: Bắc thuộc thời Hán, bộ Giao Chỉ gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam.
+ (thuộc) Giao Châu: Bắc thuộc từ thời Đông Ngô đến thời Đường, Giao Châu bao gồm cả Quảng Đông.
+ Vạn Xuân: Giai đoạn độc lập ngắn dưới thời nhà Tiền Lý (542–602).
+ An Nam đô hộ phủ: Bắc thuộc thời Đường (618–866).
+ Tĩnh Hải quân: tiếp tục trong thời thuộc Đường qua thời Tự chủ tới hết thời nhà Ngô (866–967).
Thời trung đại
Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáo và Đạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tống và nhà Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt.
Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. Một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập ra nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm kháng chiến. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập. Đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).
Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ suy yếu, bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê Trung Hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nội chiến kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng Trong trong 200 năm.
Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của Xiêm và Thanh để lập Nhà Tây Sơn, tái thống nhất Đại Việt. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, Tây Sơn bị Nguyễn Ánh, một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Suốt thời phong kiến, các triều Lý, Trần, Hậu Lê và chúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân Lạp và Tây Nguyên ở phía Nam, mở mang bờ cõi.
Dưới thời trung đại, niên hiệu của Việt Nam cũng có nhiều thay đổi:
+ Đại Cồ Việt: thời Nhà Đinh – Nhà Tiền Lê và đầu thời Nhà Lý, từ 968–1054.
+ Đại Việt: thời Nhà Lý – Nhà Trần, từ 1054–1400.
+ Đại Ngu: thời Nhà Hồ, từ 1400–1407.
+ Đại Việt: thời Nhà Hậu Lê-Nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn, từ 1428–1804.
+ Việt Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1804–1839.
+ Đại Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1839–1945.
Thời cận, hiện đại
Việt Nam tiếp xúc với phương Tây từ thế kỷ 16. Vào thế kỷ 17, Đàng Trong và Đàng Ngoài tiến hành trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào Nha và Hà Lan, sau thêm Anh và Pháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ đến truyền bá Công giáo từ năm 1615, được Hội Thừa sai Paris và Dòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong hai thế kỷ tiên khởi 17 và 18.
Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phương Tây được truyền bá song hành truyền thống. Chính quyền thực dân bóc lột thuộc địa, khai thác tài nguyên đưa về Pháp.
Năm 1954 chiến thắng của Việt Nam tại Điện Biên Phủ buộc Pháp rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự với Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp ở phía nam, dự kiến sau hai năm sẽ tổng tuyển cử cả nước. Tuy nhiên, sau các can thiệp chính trị bên ngoài tại miền Nam, Việt Nam Cộng hòa kế thừa của Quốc gia Việt Nam, được Mỹ hỗ trợ tài chính, quân sự tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền bắc do Đảng Lao động lãnh đạo theo mô hình xã hội chủ nghĩa hậu thuẫn Chính phủ Cách mạng miền nam, có lập trường chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để thống nhất Việt Nam, gây ra xung đột quân sự.
Sau đảo chính 1963, Việt Nam Cộng hòa tiếp tục xảy ra đảo chính và phản đảo chính. Năm 1964, Hoa Kỳ đưa quân chiến đấu tại miền nam và bắt đầu ném bom miền Bắc. Cuộc tấn công Mậu Thân 1968 làm phong trào phản chiến gia tăng. Năm 1973, sau những tổn thất chiến trường, khó khăn chính trường và chuyến thăm Trung Quốc của Richard Nixon, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris rút phần lớn quân. Cuộc chiến kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
Năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tổng tuyển cử gộp nhất, đặt quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do bùng nổ Chiến tranh biên giới phía Bắc và Chiến tranh biên giới Tây Nam, giữ chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, Việt Nam hậu chiến lâm vào khủng hoảng kinh tế và xã hội. Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội. Năm 1995, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, và tiếp đó gia nhập ASEAN, APEC, thành viên diễn đàn ASEM. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO.
Vào ngày 16 tháng 10 năm 2007, Việt Nam đã được bầu làm một trong các thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008–2009. Ngày 31 tháng 12 năm 2015, Việt Nam chính thức tham gia thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN – ASEAN Economic Community, viết tắt AEC, gồm 10 quốc gia thành viên.
Tên gọi của Việt Nam tại các thời này như sau:
Thời Pháp thuộc
+ (thuộc) Liên bang Đông Dương: nhập chung với Lào, Campuchia từ 1887 đến 1945.
Giai đoạn từ năm 1945 đến nay
+ Đế quốc Việt Nam: tháng 4/1945 – tháng 8/1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, là chính phủ bù nhìn của phát xít Nhật Bản.
+ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: từ 2 tháng 9 năm 1945 đến 2 tháng 7 năm 1976.
+ Quốc gia Việt Nam: dựng lên bởi chính quyền thực dân Pháp, tồn tại từ 1949 đến 1955 với Quốc trưởng Bảo Đại.
+ Việt Nam Cộng hòa: kế thừa từ Quốc gia Việt Nam, tồn tại từ 1955 đến 30 tháng 4,1975 tại miền Nam.
+ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sau hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
+ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam: từ 8 tháng 6 năm 1960 đến 2 tháng 7 năm 1976, tiếp quản miền Nam từ sau 30 tháng 4 năm 1975.
+ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay, kế thừa trực tiếp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Dân số - Văn hóa
Dân số
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên.
Trong số các dân tộc thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng,... mỗi dân tộc có dân số khoảng 1 triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam. Trong số các dân tộc này, người Hoa và người Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm.
Ngoài ra còn có những dân tộc được nhắc đến trong hoạt động xã hội, nhưng lại không được nêu trong danh sách 54 dân tộc tại Việt Nam: người Pa Kô; người Arem; người Đan Lai; người Tà Mun.
Dân số Việt Nam tính đến năm 2018 có khoảng hơn 90 triệu người.
Ngôn ngữ
Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam, được quy định tại Điều 5 Hiến pháp 2013. Đây là tiếng mẹ đẻ của hơn 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn 4 triệu người Việt hải ngoại; đây cũng là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có nhiều ngôn ngữ thiểu số thuộc các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo, Hán-Tạng, Tai-Kadai, và H'Mông-Miền. Mặc dù tiếng Việt có một lượng lớn từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây từng dùng chữ Nôm – một hệ chữ dựa trên chữ Hán – để viết nhưng tiếng Việt được cho là thuộc ngữ hệ Nam Á, và là ngôn ngữ có số lượng người sử dụng nhiều nhất trong ngữ hệ này.
Tôn giáo
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam có tín ngưỡng dân gian riêng. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Tây lịch cùng với Nho giáo và Đạo giáo. Được gọi chung là tam giáo, ba tôn giáo ảnh hưởng nhiều nhất tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng là quốc giáo thời Nhà Lý và Nhà Trần. Các tư tưởng Nho giáo cho tới nay vẫn có vai trò trong trật tự xã hội Việt Nam. Công giáo được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 16 và Tin Lành từ đầu thế kỷ 20. Hồi giáo được truyền vào Chăm Pa, Nam Trung Bộ từ các vương triều Hồi giáo ở Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo. Ngoài ra, có một lượng người tự nhận không tôn giáo.
Trang phục truyền thống
Áo dài là trang phục truyền thống của Việt Nam. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh ở nhiều trường trung học phổ thông khắp Việt Nam. Áo dài đã từng được mặc bởi cả hai giới, nhưng ngày nay chủ yếu dành cho phụ nữ, đàn ông cũng mặc nó vào một số dịp như đám cưới truyền thống. Một số ví dụ khác về trang phục truyền thống của Việt Nam bao gồm áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm,... Mũ nón truyền thống bao gồm nón lá và nón quai thao.
Chính trị - Kinh tế
Chính trị
Việt Nam cho tới nay là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị thực hiện theo cơ chế có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội Việt Nam. Những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là Đảng viên và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong Điều 4 của Hiến pháp 2013, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ", mà không cho phép thành lập một hệ thống đa đảng. Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng Bí thư là một trong những người có quyền lực cao nhất Việt Nam, vì đứng đầu đảng duy nhất hợp lệ, cùng với Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp.
Quan hệ đối ngoại
Theo các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
Kinh tế
Từ ngàn năm nay, Việt Nam là một nước nông nghiệp. Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính sách Đổi mới năm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước.
















